Chị Gái Bị Ép Gả Cho Kẻ Giữ Ngọn Hải Đăng Bị Câm, Nào Ngờ Đêm Bão Ập Đến Cả Gia Tộc Phải Quỳ Xin Cô Trở Về!
Chương 5: Anh Chồng Lạnh Lùng Ghen Ngầm Đỏ Tai, Đêm Dưới Hải Đăng Trao Lại La Bàn Của Thầy
Cậu chuyên gia trẻ tuổi vừa chào hỏi xong đã vội vàng móc điện thoại ra, giọng cậu ta phấn khích đến mức nói nhanh hơn cả tiếng máy tàu mà xin số liên lạc của tôi, còn nhiệt tình mời tôi về đất liền hợp tác với mức đãi ngộ cao nhất. Tôi còn chưa kịp mở miệng từ chối khéo, Lục Trường Phong đứng ngay bên cạnh đã im lặng bước lên nửa bước, cả thân người cao lớn chắn ngang tầm nhìn của cậu chuyên gia như một bức tường đá không cho phép vượt qua. Ánh mắt anh lạnh băng quét thẳng qua khiến cậu thanh niên đang cười tươi bỗng khựng lại, nụ cười trên môi tắt ngấm như đèn dầu gặp gió biển, bàn tay cầm điện thoại cũng vô thức rụt về. Mấy bác ngư dân đứng gần nhìn sắc mặt anh mà lùi thêm nửa bước, trong lòng tôi lại chỉ muốn ôm bụng cười, thầm nghĩ người đàn ông này ngoài biển dám lao vào vùng xoáy cứu người, về tới bờ gặp một cậu trai trẻ khen vợ mình mấy câu đã sầm mặt như vừa phát hiện tàu lạ xâm phạm vùng biển cấm.
Cậu chuyên gia trẻ tuổi bị ánh mắt ấy đóng băng tại chỗ vẫn cố gượng cười, giọng cậu ta nhỏ hẳn đi mà giải thích rằng mình chỉ muốn tiện trao đổi khi kiểm tra hệ thống định vị lần sau. Lục Trường Phong bằng giọng trầm khàn, ngắn gọn như cắt sóng vô tuyến mà đáp rằng hệ thống trên đảo có anh phụ trách tiếp nhận, có việc gì cứ liên lạc qua trạm gác, không cần làm phiền vợ anh nghỉ ngơi. Hai chữ vợ anh được anh nhấn rất rõ, rõ đến mức thím Tư bán cá bên cạnh đang ngậm tăm cũng phải sặc một tiếng, mấy chị hàng xóm thì bụm miệng cười khúc khích nhìn nhau như vừa xem được một màn kịch hay hơn cả hát bội ngày hội làng. Tôi ngoài mặt cúi đầu lễ phép cảm ơn ý tốt của cậu chuyên gia, trong lòng lại chửi thầm đầy hả hê rằng trà xanh chưa kịp pha, bình giấm nhà tôi đã tự sôi trước, mà giấm này chua đến mức cá ngoài bến ngửi thấy cũng phải tự lật bụng giả chết cho yên thân.
Cậu chuyên gia trẻ tuổi lúng túng chào tạm biệt rồi vội vã theo tàu tuần tra rời bến, bước chân nhanh đến mức suýt vấp vào dây neo, còn Lục Trường Phong vẫn đứng yên bên cạnh tôi, gương mặt đanh lại như tảng đá ngầm chắn sóng, tay siết quai túi bánh ngọt đến nhăn nhúm cả lớp giấy gói. Đúng lúc ấy điện thoại trong túi tôi rung lên, em gái tôi bằng giọng nhỏ nhẹ ngọt đến phát ngấy trong tin nhắn thoại mà mỉa mai rằng tôi giỏi giang đến mấy cũng chỉ là con hầu không công quanh quẩn ở đảo hoang, còn cô ta sắp được Cục trưởng Hàn đích thân dự lễ khai trương du thuyền của nhà họ Thẩm. Cô ta còn cố tình cười khẽ một tiếng đầy đắc ý mà nói thêm rằng đến hôm đó truyền thông cả vùng sẽ có mặt, người tài giỏi thật sự như cô ta mới xứng đứng dưới ánh đèn, chứ không phải kẻ bị đuổi ra đảo ngồi đếm sóng cho qua ngày. Tôi nghe xong chỉ thản nhiên tắt màn hình rồi quẳng điện thoại lên mặt bàn đá, trong lòng cười lạnh mà nghĩ cái loa phát thanh biết trang điểm này đúng là bị ngáo danh tiếng đến nơi, Cục trưởng Hàn mà biết cô ta lấy trộm sổ tay của tôi đi khoe khắp nơi, khéo ông chưa dự lễ đã cho người niêm phong luôn cái miệng phông bạt của cô ta lại. Cô ta đâu có biết cuốn sổ tay ăn cắp ấy chứa toàn bộ thuật toán chuyên sâu đã cài sẵn bút tích mã hóa của thầy tôi, cô ta càng ôm nó đi khoe trước mặt Cục trưởng Hàn thì cái thòng lọng tự siết cổ mình càng chặt thêm một vòng, ngày tàn cũng đến càng nhanh.
Tôi quay sang định trêu chồng mấy câu cho hạ hỏa thì người đàn ông ấy đã lặng lẽ quay lưng đi thẳng vào bếp, không nói thêm một lời nào, chỉ có tiếng dao thớt vang lên đều đều và mùi cá rán thơm lừng bắt đầu lan khắp căn nhà đá. Chưa đầy một giờ sau, tôi nhìn mâm cơm mà suýt nữa đánh rơi đôi đũa, trên bàn lần lượt là cá hấp gừng, cá rán giòn, canh chua cá nấu thơm đến bốc khói, bên cạnh còn bày thêm hai hộp bánh kem dâu tươi, số lượng gấp đôi mọi ngày như thể anh vừa vét sạch quầy bánh ở thị trấn mang về. Lục Trường Phong bằng vẻ mặt nghiêm túc như đang điểm danh quân số mà gắp cho tôi miếng cá nạc nhất, giọng anh trầm thấp dặn tôi ăn nhiều một chút vì ban ngày cứu tàu đã tốn sức, tay anh lại không ngừng đẩy đĩa bánh về phía tôi thêm một phân. Tiếng lòng tôi lập tức cười lăn lộn trong đầu, thầm kêu lên rằng ối giời ơi, bình giấm chua ngàn năm của đảo Bạch Đầu vỡ thật rồi, người ta ghen thì nói lời khó nghe, còn chồng bà đây ghen lại đi trút giận lên mấy con cá tội nghiệp, nấu một bàn toàn cá như muốn tuyên chiến với cả biển khơi.
Ăn được nửa bữa, Lục Trường Phong bỗng đặt đôi đũa xuống rất ngay ngắn, anh nhìn tôi bằng ánh mắt thẳng băng quen thuộc mỗi khi báo cáo nhiệm vụ mà hỏi rằng cậu thanh niên ban chiều có hay nhắn tin cho tôi không. Anh ngừng một nhịp, cổ họng khẽ động, rồi bằng giọng càng thêm nghiêm túc mà nói tiếp rằng nếu tôi cần về đất liền làm việc, anh có thể dậy sớm chèo thuyền đưa tôi đi mỗi ngày, không cần nhờ người ngoài đưa đón. Anh còn bổ sung một câu cụt lủn mà đầy sức nặng rằng cậu ta nói nhiều hơn anh, nhưng cậu ta không biết tôi thích ăn phần kem có dâu tươi ở góc bánh, cũng không biết tôi sợ tiếng còi báo động lúc nửa đêm. Cả căn bếp bỗng yên tĩnh đến mức chỉ còn tiếng sóng vỗ ngoài ghềnh đá, tôi chống cằm nhìn người đàn ông vai rộng eo hẹp đang ngồi thẳng lưng như chờ phán quyết, trong lòng vừa ngọt vừa buồn cười đến nội thương, thầm nghĩ anh ghen đến thế này mà vẫn giữ được vẻ mặt như đang bàn chuyện quốc gia đại sự thì đúng là thiên phú dị bẩm.
Tôi cố nhịn cười, cố tình ghé sát lại một chút, bằng giọng mềm mỏng vô tội mà hỏi thẳng rằng có phải anh đang ghen vì sợ tôi chê anh ít nói hơn người ta không. Câu hỏi vừa rơi xuống, người cựu chỉ huy từng không chớp mắt trước sóng dữ lập tức cứng đờ cả sống lưng, bàn tay đang cầm chén trà khựng lại giữa không trung, vành tai và cả vùng cổ của anh đỏ rực lên như tôm luộc vừa vớt ra khỏi nồi nước sôi. Lục Trường Phong bằng giọng khàn khàn, lắp bắp hiếm thấy mà thừa nhận rằng anh không biết nói lời dễ nghe, cũng không biết dỗ dành như mấy cậu trai trẻ ngoài kia, nhưng anh biết nấu cơm, biết mua bánh ngọt và biết đứng chắn gió cho tôi cả đời. Anh nói xong liền cúi đầu gắp thêm cá vào bát tôi như muốn dùng hành động lấp đi sự lúng túng, còn tôi nhìn đôi tai đỏ đến sắp bốc khói của anh mà tim mềm nhũn, trong lòng thầm gào lên rằng thôi xong, bà đây bị một người đàn ông ghen vụng về hạ gục hoàn toàn, không cần chiêu trò gì cao siêu, chỉ cần đỏ tai là đủ thắng.
Đúng lúc không khí trong bếp ngọt đến sắp kéo sợi, thím Tư đội nón lá mang sang cho chúng tôi bó rau muống biển, vừa bước tới cửa sổ đã bắt gặp trọn vẹn cảnh tượng ấy và lập tức bụm miệng cười đến run cả vai. Thím Tư bằng giọng cố nén cười mà trêu lớn rằng cả đảo ai cũng tưởng chàng canh hải đăng nhà này không biết ghen là gì, hóa ra ghen lên còn đỏ mặt hơn cả cô dâu mới về nhà chồng, chuyện này đáng để kể cho cả xóm nghe ba ngày ba đêm không hết. Lục Trường Phong nghe vậy càng ngồi thẳng hơn, mặt anh cố giữ vẻ lạnh lùng vô cảm nhưng vành tai đỏ bừng đã bán đứng chủ nhân sạch sành sanh, khiến mấy người hàng xóm vừa kéo tới hóng chuyện ngoài sân được một trận cười nghiêng ngả, có người còn sặc nước trà phun ướt cả vạt áo. Tôi vừa xấu hổ vừa đắc ý, ngoài mặt vội vàng mời thím vào nhà ăn bánh, trong lòng lại thầm ghi thêm một món nợ ngọt ngào vào sổ, thầm nghĩ từ nay ai còn dám đồn chồng tôi là khúc gỗ câm vô tình, bà đây sẽ lôi nguyên xóm chài ra làm chứng rằng khúc gỗ này biết ghen, biết đỏ tai và biết nấu một bàn cá để dỗ vợ.
Cơm tối xong, trời đã ngả hẳn về đêm, gió biển thổi qua khe đá mang theo hơi muối mặn và tiếng sóng vỗ đều như nhịp thở của đảo. Lục Trường Phong không về phòng nghỉ như mọi ngày, anh lặng lẽ cầm theo một chiếc hộp gỗ chống ẩm cũ kỹ, bằng giọng trầm thấp mà bảo tôi theo anh lên đỉnh tháp đèn, nói rằng có một thứ thuộc về tôi, anh đã giữ quá lâu, hôm nay phải trao lại tận tay. Tôi ôm theo nửa hộp bánh còn lại, vừa leo cầu thang xoắn vừa tò mò đến ngứa ngáy trong lòng, thầm đoán già đoán non không biết người đàn ông ít lời này lại giấu bảo bối gì trên tháp, hay là lại giấu thêm một mẻ bánh nữa để dỗ vợ lúc nửa đêm. Lên tới phòng đèn, ánh sáng hải đăng quét một vòng dài trên mặt biển đen thẫm, anh đặt chiếc hộp gỗ xuống bệ điều khiển, bàn tay vốn luôn vững vàng của anh lần đầu tiên khẽ chần chừ trên nắp hộp như đang chạm vào một đoạn ký ức không dám mở bừa.
Nắp hộp bật mở, nằm yên trên lớp vải nhung đã sờn là một chiếc la bàn bằng đồng cũ, mặt kính hơi mờ vì năm tháng, nhưng hàng chữ khắc tên người thầy quá cố của tôi trên vành đồng vẫn rõ ràng đến nhói mắt. Tôi chết lặng tại chỗ, miếng bánh trên tay rơi lúc nào không hay, bởi chiếc la bàn này chính là kỷ vật thầy tôi luôn mang theo bên mình, đã mất tích cùng con tàu trong đêm biển động năm xưa, bao nhiêu năm qua tôi tưởng nó đã vĩnh viễn nằm lại dưới đáy biển lạnh. Lục Trường Phong bằng giọng khàn đặc, chậm rãi hơn thường ngày mà kể rằng trong chiến dịch cứu nạn năm ấy, chính anh đã lao xuống vùng nước xoáy để tìm hộp tín hiệu của tàu thầy tôi, và khi nhìn thấy chiếc la bàn mắc lại trong khoang lái ngập nước, anh đã liều mạng lặn xuống lần nữa để trục vớt nó lên. Anh nói đến đó thì khẽ kéo cổ áo, để lộ vết sẹo mờ chạy dọc bên cổ, bằng ánh mắt không hề né tránh mà thừa nhận rằng chính lần lặn sinh tử ấy đã khiến anh bị thương ở thanh quản, phải rời vị trí chỉ huy để dưỡng thương và âm thầm ở lại đảo này giữ đèn, chờ một ngày có thể trao lại kỷ vật cho người học trò mà thầy tôi từng nhắc đến.
Cổ họng tôi nghẹn lại, bao nhiêu năm gồng mình giả vờ thản nhiên, giả vờ ham ăn ham ngủ cho qua ngày, đến giây phút này bỗng vỡ òa không kìm được, nước mắt nóng hổi trào ra rơi thẳng xuống mặt đồng lạnh của chiếc la bàn. Tôi bằng giọng run run, đứt quãng mà hỏi anh vì sao giữ bí mật lâu đến vậy, vì sao biết rõ nỗi đau của tôi mà không nói sớm, để tôi một mình ôm lấy cảm giác tội lỗi rằng chính mình đã không kịp gửi tín hiệu cứu thầy trong đêm định mệnh ấy. Lục Trường Phong không giảng giải dài dòng, anh chỉ vươn tay, bằng động tác vụng về mà dịu dàng lau đi giọt nước mắt trên má tôi, giọng anh trầm khàn ngay sát bên tai mà nói rằng anh sợ tôi chưa sẵn sàng đối diện, sợ chiếc la bàn này sẽ kéo tôi trở lại đêm biển đen ấy một lần nữa khi bên cạnh chưa có ai đủ vững để nắm tay. Tiếng lòng chua ngoa mọi ngày của tôi bỗng im bặt, trong đầu chỉ còn một ý nghĩ duy nhất rằng người đàn ông bị cả thiên hạ đồn là câm, là quái gở, là mang vận xui, hóa ra đã âm thầm thay tôi giữ lại mảnh hồn cuối cùng của thầy, giữ luôn cả phần quá khứ đẫm nước mắt mà tôi tưởng mình phải mang một mình đến hết đời.
Anh đặt chiếc la bàn vào lòng bàn tay tôi, những ngón tay chai sần của anh bao trọn lấy bàn tay đang run lên của tôi, giữ thật chặt như sợ tôi sẽ lại trượt khỏi tầm tay anh giữa biển đêm. Lục Trường Phong bằng giọng dứt khoát như tuyên thệ trước quân kỳ mà hứa rằng từ nay mỗi khi tiếng còi báo động vang lên, anh sẽ luôn ở bên cạnh nắm tay tôi, tôi không bao giờ phải một mình đối diện với biển đen và ký ức cũ nữa. Tôi ngẩng khuôn mặt đẫm nước mắt lên nhìn anh, ngoài miệng chỉ thốt được một câu nghẹn ngào cảm ơn, trong lòng lại thầm thề rằng người đàn ông này, bà đây nhận rồi, không phải vì hợp đồng, không phải vì bị cha ruột đuổi ra đảo, mà vì chính tôi tự nguyện muốn ở lại bên ngọn đèn này cùng ông đến hết đời. Anh nghe không hết câu đã vội kéo tôi vào lòng ôm thật chặt, cằm anh tựa lên đỉnh đầu tôi, vòng tay anh ấm và vững như ghềnh đá chắn sóng, còn vành tai anh giữa cái ôm sâu lắng ấy vẫn đỏ lên khe khẽ khiến tôi vừa khóc vừa không nhịn được phải bật cười trong nước mắt.
Chúng tôi đứng lặng bên nhau rất lâu dưới ánh đèn hải đăng xoay đều, không ai nói thêm lời nào, chỉ nghe tiếng sóng biển rì rầm vỗ vào vách đá và tiếng kim la bàn khẽ rung trong lòng bàn tay tôi như đang tìm lại phương hướng sau bao năm lạc lối. Lục Trường Phong bằng động tác trang trọng như làm lễ mà cùng tôi đặt chiếc la bàn lên bệ điều khiển trung tâm của hải đăng, ngay cạnh hệ thống tín hiệu dự phòng, như thể đưa kỷ vật của thầy trở về đúng vị trí nó từng thuộc về. Tôi đưa tay vuốt nhẹ lên hàng chữ khắc đã mòn, trong lòng thầm nói với thầy rằng con đã không còn là đứa học trò khóc lóc trốn trong phòng tín hiệu năm xưa nữa, con đã có người đồng hành, có mái nhà và có đủ can đảm để tiếp tục con đường thầy để lại. Anh đứng bên cạnh, không chen vào nỗi niềm riêng của tôi, chỉ lặng lẽ đặt thêm chiếc bánh kem dâu còn nguyên vào tay tôi, bằng giọng nghiêm túc đến buồn cười mà dặn rằng khóc xong phải ăn, thầy tôi trên trời nhìn xuống cũng không muốn học trò của ông đói bụng mà tưởng nhớ mình.
Nụ cười của tôi còn chưa kịp nở trọn, chiếc kim áp kế treo ngay bên cạnh bệ điều khiển bỗng rung lên bần bật rồi tụt dốc thẳng đứng không hề báo trước, nhanh đến mức cả tôi và Lục Trường Phong cùng lúc ngẩng phắt đầu lên nhìn nhau. Lục Trường Phong bằng sắc mặt lạnh đi trong nháy mắt mà siết chặt tay tôi, giọng anh trầm xuống như lệnh báo động mà nói rằng áp suất tụt kiểu này chỉ xuất hiện khi ngoài khơi đang hình thành một cơn bão biển dị thường, sức xoáy sẽ mạnh hơn mọi dự báo thông thường. Tôi nhìn ra mặt biển đen đặc ngoài ô kính, nơi xa xa những đám mây đen đang cuộn lại thành một vệt dài nuốt dần ánh trăng, trong lòng bỗng lạnh toát khi nhớ tới tin nhắn đắc ý ban chiều của em gái tôi về lễ khai trương siêu du thuyền của nhà họ Mạc sắp nhổ neo. Tiếng gió ngoài tháp đèn bỗng rít lên một hồi dài sắc lạnh, ánh đèn hải đăng vẫn quét đều trên sóng dữ đang dâng, còn chiếc la bàn của thầy trong tay tôi khẽ rung lên như một lời cảnh báo muộn màng rằng cơn bão mà tôi từng buột miệng tiên tri trong ngày cưới, cuối cùng cũng đã tìm đường quay lại để đòi đủ món nợ cũ.