Họ Cướp Mẫu Băng Cổ Của Tôi Để Nhận Giải Thưởng, Đến Ngày Công Bố Niên Đại Cả Đội Nghiên Cứu Mới Biết Mình Đã Đánh Mất Điều Gì!
Chương 3: Bục Phát Biểu Rực Sáng Và Câu Hỏi Không Ai Trả Lời
Chiều hôm sau, hội trường công bố chật kín người, tôi không có mặt ở đó nhưng đoạn ghi hình của hội đồng quay cận cảnh bục phát biểu và lời kể của Chu Minh Khôi ngồi ở hàng ghế cuối sau buổi công bố đã cho tôi thấy rõ mọi điều. Trên bục, Bạch Nguyệt Thư giới thiệu mẫu băng quý nhất như một thành quả được chính mình khai thác và phân tích trong nhiều năm, rồi chậm rãi nhắc đến phương pháp phân tích cốt lõi như thể từng lớp băng đều đã đi qua tay cô ta. Giáo sư Lâm ngồi ở hàng ghế đầu, ông khẽ gật đầu theo từng câu của Nguyệt Thư, ánh mắt hài lòng của một người thầy nhìn thấy học trò được mình nâng đỡ cuối cùng cũng đứng đúng vị trí ông đã sắp đặt.
Tôi nghe Minh Khôi kể đến đoạn ấy thì tay vẫn không rời khỏi mặt cắt của mẫu băng nhỏ ở trạm mới, bởi tôi biết rõ phần trình bày phía sau mới là phần quyết định tất cả. Nguyệt Thư cho chiếu lên bản đồ phân tầng và dừng lại rất lâu ở lớp tro núi lửa mà cô ta chọn làm mốc thời gian cho toàn bộ chuỗi biến đổi khí hậu, giọng cô ta vang lên đầy chắc chắn khi cô ta nói lớp tro ấy đánh dấu một sự kiện duy nhất và từ đó có thể suy ra niên đại của những lớp băng nằm trên và nằm dưới. Cô ta không hề nhắc đến dấu hiệu tái lắng đọng, không hề nhắc đến lời cảnh báo đã được ký nhận, cũng không hề nhắc đến việc hai lớp tro thuộc hai thời kỳ khác nhau có thể bị dòng chảy và sức ép trong lòng băng đẩy lệch khỏi vị trí ban đầu. Trong đầu tôi hiện lên rất rõ những đêm ở kho lạnh kiếp trước, khi tôi cúi sát xuống mặt băng và nhận ra vệt tro bị kéo dài bất thường ấy không thể thuộc về một lần phun trào duy nhất. Chỉ cần đặt sai một lớp bụi mỏng vào thời điểm của nó, người ta có thể đọc sai hàng nghìn năm lịch sử khí hậu mà vẫn tưởng mình đang công bố một phát hiện lớn.
Giáo sư Lý Quốc Trung ngồi ở hàng ghế đầu phía bên trái, ông im lặng nghe hết phần trình bày chính rồi mới chậm rãi giơ tay, giọng ông điềm tĩnh và không hề gay gắt khi ông hỏi vì sao trong bản đồ phân tầng, lớp tro được dùng làm mốc lại xuất hiện lệch vị trí so với trình tự lắng đọng tự nhiên. Cả hội trường đang rì rầm bỗng yên xuống, Nguyệt Thư khựng lại một nhịp rồi nở nụ cười gượng, cô ta cúi đầu nhìn màn hình như thể đáp án đang nằm sẵn trong những dòng chữ mình đã học thuộc. Giáo sư Trung tiếp tục hỏi bằng giọng đều đặn, ông nói nếu hai lớp tro không cùng một thời kỳ thì căn cứ nào cho phép dùng chúng làm một mốc niên đại duy nhất cho toàn bộ chuỗi băng. Câu hỏi ấy không lớn tiếng, không mang theo sự công kích cá nhân, nhưng nó chạm đúng vào chỗ rỗng nhất của toàn bộ kết luận mà Nguyệt Thư vừa trình bày.
Nguyệt Thư nắm chặt thiết bị điều khiển trong tay, cô ta bắt đầu trả lời bằng những khái niệm quen thuộc về cấu trúc đồng vị và trình tự trầm tích, giọng cô ta lúc đầu còn giữ được sự trôi chảy của người đã thuộc lòng bài nói. Cô ta nói dấu hiệu bất thường trong lớp tro chỉ là biến động nhỏ trong quá trình bảo quản và không làm thay đổi kết luận tổng thể, rồi cô ta nhắc lại tên phương pháp phân tích cốt lõi như một tấm khiên để che đi phần mình không giải thích nổi. Giáo sư Trung không cắt ngang, ông chỉ hỏi thêm một câu rất nhẹ về cơ sở đối chứng độc lập đã được dùng để xác nhận niên đại ấy hay chưa. Đến lúc đó Nguyệt Thư bắt đầu lặp lại chính những câu mình vừa nói, mắt cô ta liếc nhanh về phía giáo sư Lâm, bàn tay còn lại vô thức siết lấy mép bục phát biểu cho đến khi các khớp ngón tay trắng bệch.
Giáo sư Lâm nhận ra sự lúng túng ấy trước tất cả mọi người, ông nghiêng người về phía micro đặt trên bàn và cất giọng trầm ổn quen thuộc để trấn an hội trường. Ông nói bằng thái độ của một người thầy giàu kinh nghiệm rằng dữ liệu của nhóm vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và không nên vì một điểm chưa hoàn toàn rõ ràng mà phủ nhận giá trị của toàn bộ công trình. Ông còn nhấn mạnh thêm rằng Nguyệt Thư là nghiên cứu sinh trẻ có tư duy đột phá và nhóm nghiên cứu sẽ bổ sung luận giải chi tiết trong báo cáo chính thức gửi đến hội đồng. Nghe kể lại đến đó, trong đầu tôi hiện rõ suy luận đã quen thuộc suốt mười lăm năm, rằng ông đang đứng ra che chắn cho người được mình chọn và lấp khoảng trống năng lực bằng danh tiếng của cả tập thể.
Chu Minh Khôi ngồi ở hàng ghế cuối kể lại sau buổi công bố rằng tiếng vỗ tay sau phần trả lời thưa đi thấy rõ, không còn dày và tự tin như lúc Nguyệt Thư bước lên bục, thay vào đó là những tiếng trao đổi nhỏ lan dần từ hàng ghế đầu xuống phía sau. Một vài người khác nhìn lên màn hình nơi hai lớp tro vẫn nằm cạnh nhau trong một mốc niên đại bị ép buộc phải trùng khớp. Nguyệt Thư cố giữ nụ cười đến cuối phần trình bày, cô ta cúi đầu cảm ơn hội trường và nói mình sẽ tiếp thu mọi góp ý để hoàn thiện nghiên cứu, bởi lần đầu tiên, trong suy nghĩ của tôi khi nghe kể lại, cô ta buộc phải hiểu rằng thuộc lòng một kết luận không giống với việc tự mình làm ra kết luận ấy.
Điện thoại của tôi rung lên khi tôi đang cùng Lan Chi kiểm tra lại một đoạn băng mỏng vừa được cắt ra ở trạm mới, màn hình hiện tên Bạch Nguyệt Thư và tôi để chuông đổ hết hai hồi mới đưa máy lên nghe. Nguyệt Thư khóc ngay từ câu đầu tiên, giọng cô ta nghẹn lại và đầy hoảng loạn khi cô ta gọi tôi là chị rồi nói hội trường hôm nay có một chuyên gia hỏi rất sâu về lớp tro và cô ta không trả lời được đến nơi đến chốn. Cô ta nói bằng giọng cầu khẩn rằng chỉ cần chị giải thích một lần cho em hiểu đúng bản chất của dấu hiệu tái lắng đọng thì em sẽ tự đứng ra bổ sung trước hội đồng. Tôi nhìn xuống mặt cắt băng trước mặt, nơi Lan Chi đang chờ tôi xác nhận một vệt sáng rất nhỏ, rồi tôi đáp lại bằng giọng bình thản rằng tôi đã cảnh báo trước ngày công bố và cảnh báo ấy đã được ký nhận trong biên bản bàn giao. Tôi nghe hết mà không ngắt lời, bởi kiếp trước chính giọng khóc này đã khiến tôi thức trắng nhiều đêm để sửa lại từng trang phân tích cho cô ta, rồi cuối cùng đứng nhìn tên mình biến mất khỏi công trình do chính tay mình làm ra. Sự mềm lòng cũ từng trả giá bằng cả mạng sống, nên lần này lòng tôi tĩnh như mặt hồ đóng băng. Lần này tôi chỉ nói ngắn gọn rằng người đứng tên công bố phải tự giải thích kết luận của mình, tôi không còn phụ trách nghiên cứu ấy nữa, rồi tôi cúp máy khi tiếng khóc ở đầu dây bên kia vẫn chưa dừng lại.
Chưa đầy mười phút sau, giáo sư Lâm gọi đến bằng số máy bàn của phòng nghiên cứu cũ, giọng ông hạ thấp hơn thường ngày nhưng thói quen ra lệnh vẫn nằm nguyên trong từng chữ. Ông gọi tôi là Diệu Cầm bằng giọng mỏi mệt rồi nói thầy biết em hiểu mẫu vật này hơn bất kỳ ai, em chỉ cần giúp nhóm một lần này để buổi công bố không ảnh hưởng đến danh dự của viện và tương lai của Nguyệt Thư. Ông nói thêm rằng thầy không yêu cầu em quay lại nhóm, em chỉ cần gửi một phần luận giải kín đáo để Nguyệt Thư dùng khi trả lời hội đồng vào buổi làm việc tiếp theo. Tôi đứng dậy đi ra hành lang nhỏ của trạm để không làm gián đoạn công việc của Lan Chi và Minh Quân, hơi lạnh từ dãy núi phía ngoài phả vào mặt khiến giọng tôi càng tỉnh táo hơn khi tôi cất lời: "Thầy đã có người trình bày. Thầy hãy để người đó giải thích."
Giáo sư Lâm im lặng rất lâu ở đầu dây bên kia, lâu đến mức tôi nghe rõ tiếng thở nặng nề của ông và tiếng giấy tờ bị lật dở dang trên bàn làm việc cũ. Ông cất giọng chậm rãi và có phần cay đắng khi ông hỏi có phải em nhất định phải lạnh lùng đến mức nhìn cả nhóm rơi vào khó khăn mà không chịu đưa tay ra một lần hay không. Tôi nhớ lại buổi sáng trong kho bảo quản, khi ông nói người làm nghiên cứu không nên coi trọng tên tuổi cá nhân và đe dọa tôi bước ra khỏi nhóm thì đừng mong quay lại, nỗi đau cũ đi qua ngực tôi rất nhanh rồi lắng xuống thành một sự bình tĩnh không còn chỗ cho mềm lòng. Tôi tắt máy rồi quay thẳng về phòng phân tích, mở sổ mẫu của trạm mới và ghi tiếp tên người phụ trách bên cạnh đoạn băng đang chờ kiểm tra.
Lan Chi đang chờ tôi ở phòng phân tích, cô cúi đầu trước mặt cắt băng với vẻ lo lắng vì vừa đọc lệch một lớp băng mỏng có màu sáng bất thường ở gần mép mẫu. Cô ngẩng lên nhìn tôi bằng ánh mắt áy náy rồi gọi tôi là cô và nói rất thành thật rằng em vừa nhận sai vị trí của lớp băng này, em xin được làm lại từ đầu cùng cô để không làm lệch kết quả của cả nhóm. Tôi ngồi xuống bên cạnh Lan Chi và không hề sửa thay phần việc của cô, tôi chỉ chỉ cho cô dấu hiệu rất nhỏ nơi cấu trúc tinh thể bị gãy khúc và bảo cô tự đối chiếu lại với ghi chép thực địa của chính mình. Minh Quân đứng phía sau giữ đèn chiếu sáng cho mặt cắt, anh lặng lẽ ghi lại thời điểm phát hiện sai lệch và tên người phát hiện vào sổ theo đúng quy trình của trạm, không bỏ qua cũng không làm nhẹ đi.
Trưởng trạm Sơn đi ngang qua phòng phân tích và dừng lại ở cửa, anh nhìn phần việc đang dang dở của chúng tôi rồi hỏi bằng giọng trầm và rõ ràng rằng hôm nay cần chia việc thế nào để không ai phải thức quá khuya. Câu hỏi ấy khiến tay tôi khựng lại trong một nhịp rất ngắn, bởi ở nhóm cũ chưa từng có ai hỏi tôi có mệt không hay phần việc nào nên được chia bớt cho người khác. Tôi đáp rằng Lan Chi sẽ làm lại phần phân tầng của mẫu nhỏ, Minh Quân phụ trách đối chiếu điều kiện bảo quản, còn tôi sẽ kiểm tra chuỗi dấu hiệu nằm sâu phía dưới hai lớp tro từng bị ghép nhầm ở nghiên cứu cũ. Anh Sơn gật đầu rồi ghi tên từng người bên cạnh phần việc của họ lên bảng công việc, nét chữ của ai cũng cùng một kích thước và không có tên nào bị viết nhỏ đi ở góc bảng.
Mẫu băng nhỏ ở trạm mới không quý giá và không đồ sộ như mẫu băng mười lăm năm ở nhóm cũ, nhưng từng đoạn của nó đều có nguồn gốc rõ ràng và được chúng tôi làm lại nhiều lần khi có điểm chưa khớp. Tối hôm trước, khi mở lại nhật ký thực địa và đối chiếu với bản đồ phân tầng của chính mình, tôi đã nhận ra dấu vết nằm sâu phía dưới hai lớp tro bị ghép nhầm có thể là một thời kỳ hạn hán cổ đại kéo dài, nên hôm nay tôi không chờ một phát hiện mới mà chờ một bằng chứng độc lập để kiểm chứng điều mình đã thấy. Khi Lan Chi làm lại xong phần phân tầng, chuỗi biến đổi rất nhỏ trong cấu trúc băng cho thấy vệt khô hạn ấy kéo dài qua nhiều lớp hơn hẳn phần ghi chép cũ từng ghi lại, đồng thời xuất hiện một gãy khúc cấu trúc tinh thể hoàn toàn chưa từng có trong nhật ký của tôi. Tôi ghi dữ kiện mới ấy vào sổ mẫu ngay bên cạnh tên của Lan Chi là người làm lại phần phân tầng và tên của Minh Quân là người đối chiếu điều kiện bảo quản, để dấu vết hạn hán cổ đại từ một nhận định trong nhật ký của riêng tôi thành một hướng kiểm chứng có tên từng người chịu trách nhiệm rõ ràng.
Ở phía bên kia dãy núi, Nguyệt Thư không chấp nhận rằng buổi công bố trục trặc vì năng lực của chính mình chưa đủ sâu để bảo vệ kết luận đã nhận. Cô ta bắt đầu nói với những người còn lại trong nhóm rằng tôi rời đi vội vàng và không bàn giao đầy đủ những luận giải quan trọng, rằng nếu tôi chịu ở lại thêm ít lâu thì cô ta đã không bị đặt vào thế khó trước một chuyên gia khách mời. Giáo sư Lâm nghe những lời ấy mà không công khai phản bác, ông chỉ yêu cầu mọi người tạm thời giữ im lặng để tránh làm ảnh hưởng thêm đến danh tiếng chung của nhóm và của viện. Sự im lặng của ông trong khoảnh khắc ấy còn nặng hơn một lời xác nhận, bởi nó cho phép câu chuyện về người đàn chị ích kỷ bỏ mặc tập thể bắt đầu lan ra từ chính những người từng biết rõ tôi đã cảnh báo điều gì.
Tối hôm đó, khi tôi đang đóng tập hồ sơ của trạm mới và chuẩn bị ghi lại phần việc của từng người trong ngày, Chu Minh Khôi gửi đến một tin nhắn ngắn với giọng điệu ngập ngừng quen thuộc. Anh gọi tôi là chị rồi nói phòng thí nghiệm hợp tác độc lập vừa thông báo kết quả phân tích mẫu đối chứng đã hoàn tất, cấu trúc đồng vị của lớp băng không tương thích với niên đại mà Nguyệt Thư vừa công bố trước hội trường. Anh nói thêm rằng bản kết quả ấy sắp được gửi chính thức đến hội đồng và những người có liên quan, và trong nhóm cũ đã có người bắt đầu hỏi vì sao dòng cảnh báo trong biên bản bàn giao lại không được đọc kỹ từ đầu. Tôi đọc tin nhắn hai lần, đặt điện thoại xuống rồi tiếp tục viết nốt tên của Lan Chi và Minh Quân bên cạnh phần đóng góp của họ trong tập hồ sơ ngày hôm nay. Tôi biết đợt sóng đầu tiên chỉ mới làm nứt bề mặt của câu chuyện thiên tài trẻ tuổi, còn những người từng cúi đầu im lặng trong buổi sáng cướp công sắp phải lựa chọn đứng về phía sự thật hay tiếp tục bảo vệ lời nói dối đã ký tên mình vào đó.