Họ Bắt Tôi Hiến Căn Nhà Cuối Cùng Để Cứu Cuộc Hôn Nhân Của Anh Trai, Kiếp Này Tôi Rời Khỏi Dòng Họ Và Để Họ Tự Mất Tất Cả!
Chương 2: Chiếc Chìa Khóa Cuối Cùng
Sáng hôm sau, khi sương còn bám trên lối đi lát đá của khu vườn tổ tiên, tôi xách túi dụng cụ cá nhân bước vào nhà kho nhỏ ở góc vườn phía đông. Đây là nơi kiếp trước tôi đã thức trắng biết bao đêm mưa, vá lại từng đoạn rãnh thoát nước, chống từng cành cổ thụ nghiêng xuống và trở về nhà khi trời gần sáng mà không ai hay biết. Tôi lấy chiếc kéo tỉa cán gỗ của cha, con dao ghép cành mẹ từng gói trong khăn cũ và cuốn sổ tay ghi lịch tưới của riêng mình, để lại toàn bộ dụng cụ chung của dòng họ trên kệ như cũ. Ở phía trước, tiếng Quốc Thịnh đang dẫn một nhóm khách quý đi dọc lối chính, giọng anh trai vang lên đầy tự tin giữa mùi hoa quế còn ướt sương.
Quốc Thịnh dừng lại bên cây cổ thụ biểu tượng, áo sơ mi phẳng phiu, tay anh trai đưa ngang một vòng như đang giới thiệu một công trình do chính mình tạo dựng rồi nói với khách: “Khu vườn này mấy chục năm qua vẫn giữ được dáng cổ kính như vậy là nhờ tôi cho người chăm sóc đúng cách, cây nào yếu là thay phương án ngay, không để hư hại lan ra.” Một vị khách lớn tuổi ngẩng đầu nhìn tán cây, lại cúi xuống rãnh đá chạy men theo gốc rồi hỏi về cách thoát nước khi mưa lớn dồn xuống cùng lúc. Quốc Thịnh hơi khựng lại, nụ cười vẫn giữ trên môi nhưng câu trả lời của anh trai chỉ quanh quẩn ở chuyện nước tự chảy theo độ dốc, không nhắc được rãnh chính nằm ở đâu, cũng không nói được đoạn nào từng bị đất bồi lấp. Tôi đứng sau hàng cau, nghe rõ từng lời nhận công quen thuộc mà trong lòng không còn nhói lên như kiếp trước nữa. Kiếp trước tôi sẽ bước ra sửa lời cho anh trai để khách không chê cười dòng họ, còn kiếp này tôi chỉ siết quai túi dụng cụ và để sự im lặng trả lời thay mình.
Tôi đi thẳng ra sân trước, đặt chiếc chìa khóa cổng vườn lên chiếc bàn đá nơi bà nội thường ngồi uống trà buổi sáng, tiếng kim loại chạm xuống mặt đá vang lên khô và rõ. Quốc Thịnh quay lại nhìn tôi, vẻ đắc ý tối qua chưa tan hết, anh trai nhướng mày rồi nói bằng giọng của người anh cả quen ra lệnh: “Em đến giao chìa khóa là phải, vườn tổ tiên không thể giao cho người ngoài, từ nay anh quản lý thì em cứ yên tâm lo việc của em.” Tôi không đáp vào câu yên tâm ấy, chỉ mở cuốn sổ ghi chép của mình, lật đến trang cuối đã đánh dấu sẵn những đoạn rãnh bị tắc bùn, những gốc hồng cổ có dấu hiệu úng rễ và cành phía tây của cây cổ thụ từng nứt nhẹ sau trận gió tháng trước. Tôi đẩy cuốn sổ về phía anh trai, giọng tôi bình thản và ngắn gọn khi tôi nói: “Anh đã nhận chìa khóa thì nhận luôn những cảnh báo này, đoạn rãnh phía sau nhà kho không rút nước nhanh nữa, nếu mưa lớn mà không khơi kịp, lối đi và mấy gốc cây già sẽ ngập trước.” Quốc Thịnh cầm cuốn sổ lên xem qua loa rồi ký vào góc trang như một thói quen cho xong việc, anh trai cười nhạt rồi đáp lại tôi: “Mấy chuyện lá rụng với bùn đọng thì ai chẳng xử lý được, em đừng làm quá lên để họ hàng tưởng vườn này không có em là không sống nổi.”
Bà nội từ trong nhà bước ra, gậy trúc gõ chậm trên nền sân, bà nhìn chiếc chìa khóa trên bàn rồi nhìn tôi bằng ánh mắt vẫn tin mọi chuyện chỉ là một cơn giận dỗi của cháu gái. Bà nội kéo ghế ngồi xuống, giọng bà dài và chậm như mỗi lần bà dùng chữ tổ tiên để buộc người khác phải mềm lòng rồi nói: “Hân à, bà biết cháu giận chuyện giấy nhà hôm qua, nhưng vườn này là mặt mũi của dòng họ, cháu có tay nghề nhất nhà thì vài hôm nữa nguôi giận lại về làm như cũ, đừng để người ngoài cười vào nhà mình.” Tôi nhìn đôi tay bà đặt trên đầu gậy, nhớ đến những ngày thơ bé bà từng nắm tay tôi đi qua chính lối vườn này, nỗi đau vẫn còn đó nhưng nó không còn đủ sức kéo tôi quay lại chỗ cũ. Tôi cúi đầu chào bà cho phải phép, giọng tôi nhẹ nhưng không chừa một khoảng trống nào cho sự hiểu lầm khi tôi nói: “Bà nội, cháu không giận dỗi, cháu chỉ trả lại việc không còn thuộc về cháu, từ hôm nay ai nhận vườn thì người đó chịu trách nhiệm với vườn.” Bà nội sững lại, còn Quốc Thịnh đứng bên cạnh lập tức chen vào bằng giọng khó chịu, anh trai nói tôi đang cố tình làm bà nội buồn trong lúc họ hàng vẫn còn qua lại mừng thọ.
Tôi không tranh cãi thêm ở sân nhà cổ, chỉ thu lại cuốn sổ của mình sau khi đã để lại bản sao những trang cảnh báo cho anh trai, rồi quay về căn nhà nhỏ của cha mẹ ở cuối ngõ. Căn nhà vẫn im lìm như mọi sáng, chậu cây trước hiên còn đọng nước, vết nứt cũ trên tường gợi lại những bữa cơm mẹ từng dọn trong gian bếp hẹp và những đêm cha ngồi mài lại lưỡi kéo dưới bóng đèn vàng. Tôi mở hộp gỗ có khóa, lấy giấy tờ nhà ra xem lại từng trang, xác nhận căn nhà này do cha mẹ để lại riêng cho tôi, không phải của chung dòng họ và càng không phải phần tiền dự phòng cho cuộc hôn nhân của bất kỳ ai. Tôi cất giấy tờ trở lại hộp, khóa chặt và đặt chìa khóa hộp vào ngăn tủ của riêng mình, trong lòng rõ ràng một điều rằng giữ nhà không phải ích kỷ, mà là giữ lời hứa cuối cùng với cha mẹ. Từ căn nhà ấy, tôi lần lượt dừng những khoản tiền từng âm thầm chảy về nhà anh trai nhiều năm qua, từ tiền sinh hoạt cuối tháng cho hai đứa trẻ, tiền mua vật tư chăm vườn, đến tiền thuê người khơi rãnh mỗi mùa mưa mà họ hàng vẫn tưởng Quốc Thịnh tự lo liệu.
Những khoản tiền ấy không lớn tiếng, không ồn ào, nhưng chính chúng đã giữ cho cuộc sống của vợ chồng anh trai trông sung túc và phẳng lặng trước mắt người ngoài suốt bao năm. Tôi cũng gọi cho người bán vật tư quen, nói rõ từ nay mọi đơn hàng cho khu vườn tổ tiên phải do người quản lý mới tự đặt và tự trả, tôi không còn đứng ra nhận thay hay bù phần thiếu như trước. Người ở đầu dây bên kia im lặng một lúc vì ngạc nhiên, bởi bao lâu nay ông vẫn quen nghe giọng tôi dặn dò từng loại phân bón, từng cuộn dây chống cành và từng lần giao hàng gấp trước cơn mưa. Tôi cúp máy, nhìn căn nhà nhỏ lần cuối trong buổi sáng ấy rồi khóa cửa lại cẩn thận, cảm giác nhẹ nhõm đến chậm nhưng thật, như một gốc cây vừa được cắt khỏi sợi dây leo đã siết nó quá lâu. Tôi biết dòng họ sẽ cho rằng tôi chỉ đi vài ngày rồi quay về, nhưng tôi cũng biết một hệ thống đã quen có người gánh sẽ không nhận ra mình đang đứng trên nền đất rỗng cho đến khi cơn mưa đầu tiên chạm xuống.
Buổi trưa, tôi mang túi dụng cụ đến khu nhà vườn cũ ở phía bên kia thị trấn, nơi những người thợ già vẫn giữ một khoảng đất rộng không hào nhoáng nhưng đầy những gốc cây cần được phục hồi chậm rãi. Bác Sáu đang ngồi bên hiên sửa lại cán xẻng, đôi tay chai sần của bác dừng lại khi thấy tôi bước vào, bác ngẩng lên nhìn túi đồ trên vai tôi rồi hỏi bằng giọng trầm và ít lời: “Cháu Hân, cháu quyết định sang hẳn bên này làm rồi sao, nhà bên kia không níu được cháu nữa à?” Tôi đặt túi dụng cụ xuống bậc hiên, thành thật đáp lại bác Sáu bằng giọng vẫn còn mệt nhưng đã yên ổn hơn khi tôi nói: “Cháu sang để làm việc cho rõ ràng, bác ạ, cháu muốn ở một nơi người chăm cây không phải đứng sau lưng người khác mỗi khi khách đến.” Bác Sáu gật đầu, không an ủi dài dòng, bác chỉ đứng dậy dẫn tôi ra khoảng đất phía sau và chỉ vào mấy gốc cây già đang cần cắt bỏ rễ mục trước mùa mưa. Bên cạnh bác, người thợ trẻ Minh An đang lóng ngóng ghi chép vào cuốn sổ bìa nâu, cậu ngẩng mặt lên chào tôi bằng giọng lễ phép và hơi hồi hộp: “Chị Hân, em là Minh An, em mới học việc ở đây, phần nào chưa biết em sẽ hỏi chị, chị đừng làm thay em hết nhé.”
Câu nói ngây ngô của Minh An khiến tôi đứng lặng một nhịp, bởi ở nhà cũ chưa từng có ai hỏi tôi muốn chia việc thế nào, họ chỉ hỏi vì sao tôi chưa làm xong. Bác Sáu mở cuốn sổ việc của khu nhà vườn mới đặt lên bàn gỗ, trong đó mỗi ngày đều ghi rõ ai phụ trách gốc cây nào, ai tưới, ai cắt rễ, sai ở đâu và sửa lại ra sao, tên của mọi người được viết cùng một cỡ chữ. Bác Sáu gõ nhẹ ngón tay lên trang sổ còn trống, giọng bác chậm rãi mà chắc chắn khi bác nói với tôi: “Bác nói thật với cháu, ở đây ai làm phần nào thì ghi phần ấy, cây sống thì cùng mừng, cây chết thì cùng xem lại lỗi, không có chuyện một người thức đêm còn một người ra sân nhận lời khen.” Tôi cầm bút ghi tên mình vào phần phục hồi ba gốc cây phía sau, bên cạnh tên của bác Sáu và Minh An, lòng tôi bỗng dâng lên một cảm giác lạ lẫm vì lần đầu tiên công sức của mình được đặt đúng chỗ ngay từ đầu. Minh An tưới sai lượng nước cho một cây non gần hàng rào, nước tràn ra khỏi gốc khiến cậu hốt hoảng nhìn tôi, nhưng tôi chỉ đưa cho cậu chiếc xẻng nhỏ và bình tĩnh dặn cậu tự xới lại đất cho thoát bớt nước.
Minh An cúi xuống làm lại từng chút theo lời tôi hướng dẫn, bàn tay cậu còn vụng nhưng ánh mắt đã bớt sợ hãi khi thấy tôi không mắng cũng không giành lấy việc để làm cho nhanh. Tôi nói với Minh An bằng giọng rõ ràng, không mềm đến mức khiến cậu ỷ lại mà cũng không lạnh đến mức khiến cậu không dám hỏi: “Em làm sai thì ghi vào sổ của em, lần sau nhìn lại sẽ nhớ, nghề này không giữ được bằng lời khoe mà giữ bằng trách nhiệm với từng gốc cây mình chạm vào.” Cậu gật đầu thật mạnh, tự tay viết thêm một dòng dưới phần việc của mình, còn bác Sáu đứng bên cạnh nhìn chúng tôi và khẽ gật đầu như vừa xác nhận một điều ông đã chờ rất lâu. Tiếng kéo cắt rễ vang lên đều đều trong khu vườn mới, tiếng xẻng chạm đất và tiếng nước tưới thấm xuống lớp đất khô tạo thành một nhịp sống chậm rãi mà tôi chưa từng được nghe khi còn ở nhà cũ. Ở nơi này không ai nhắc đến thể diện dòng họ, không ai đặt giấy tờ nhà lên bàn thờ để ép tôi ký, chỉ có những người thợ biết rằng cây muốn sống thì phải có người thật sự hiểu nó cần gì.
Chiều hôm ấy, ở khu vườn tổ tiên, Quốc Thịnh vẫn dẫn đoàn khách buổi sáng đi thêm một vòng nữa trước khi tiễn họ ra cổng, anh trai không quên dừng bên cây cổ thụ để kể lại câu chuyện mình đã giữ cây qua bao mùa mưa gió. Một người làm vườn lâu năm trong nhà đi theo phía sau, đến đoạn rãnh sau nhà kho thì dừng lại, ông cúi xuống nhìn dòng nước đọng không rút và gọi Quốc Thịnh bằng giọng dè dặt: “Cậu Thịnh, đoạn rãnh này nước xuống chậm hơn mọi khi, hay là để tôi gọi cô Hân về xem qua một lần cho chắc?” Quốc Thịnh quay lại, nụ cười trên mặt anh trai cứng đi một thoáng rồi lập tức trở lại vẻ tự tin quen thuộc, anh trai khoát tay và nói lớn đủ để khách nghe thấy: “Không cần gọi ai cả, từ nay vườn này do tôi quản lý, vài chiếc lá chắn dòng thì dọn đi là xong, đừng hễ có việc nhỏ là lại nghĩ đến người đã bỏ đi.” Người làm vườn im lặng cúi xuống vớt mấy chiếc lá trên mặt rãnh, nhưng nước bên dưới vẫn chỉ nhích đi rất chậm qua lớp bùn dày mà tôi đã ghi rõ trong bản cảnh báo. Quốc Thịnh không nhìn thêm lần thứ hai, anh trai quay lại với đoàn khách, tiếp tục câu chuyện về khu vườn thịnh vượng như thể sự cố nhỏ kia chưa từng xuất hiện trước mắt mình.
Tối đến, điện thoại của tôi đặt trên bàn gỗ ở khu nhà vườn mới rung lên liên tiếp khi tôi đang rửa tay sau một buổi chiều cắt rễ. Chị dâu là người gọi trước, giọng chị dâu vừa khóc vừa trách móc, nước mắt như đã chờ sẵn ở đầu dây khi chị dâu nói với tôi: “Gia Hân, sao tháng này chị chưa thấy khoản tiền sinh hoạt em vẫn gửi cho hai đứa nhỏ, nhà đang chờ khoản ấy để đóng mấy thứ cần thiết, em làm vậy là muốn nhìn anh chị khốn đốn thật sao?” Tôi nghe tiếng chị dâu nấc lên, lại nhớ kiếp trước chính những giọt nước mắt ấy đã khiến tôi bán nhà, bán cả nơi thờ cha mẹ để đổi lấy một mái nhà trọn vẹn cho người khác. Tôi lau khô tay, giọng tôi vẫn nhẹ nhưng không còn một kẽ hở nào cho lời hứa cũ quay lại khi tôi đáp chị dâu: “Chị dâu, em không còn trách nhiệm gửi khoản tiền đó nữa, từ nay chi tiêu trong nhà anh chị thì anh chị tự lo liệu như mọi gia đình khác.” Chị dâu ở đầu dây bỗng im bặt, rồi tiếng gọi của Quốc Thịnh chen vào đầy tức giận ở phía sau, nhưng tôi đã đặt điện thoại xuống bàn và không nhấc máy thêm lần nào nữa.
Ngoài hiên khu nhà vườn mới, bác Sáu đang che lại những cây non vừa trồng, Minh An ôm cuốn sổ việc chạy vào báo trời sắp mưa lớn và hỏi tôi có cần ở lại trực đêm như người ta vẫn kể về tôi ở nhà cũ không. Tôi nhìn lên bầu trời đang tối dần, lắc đầu rồi nói với Minh An bằng giọng bình thản: “Không cần trực thay cho ai cả, chúng ta đã che chắn phần việc của mình rồi, phần còn lại ai giữ vườn nào thì người ấy tự chịu trách nhiệm với vườn ấy.” Cùng lúc đó, trên khu vườn tổ tiên, mây đen kéo kín mái nhà cổ, tiếng gió luồn qua tán cây cổ thụ làm những cành khô khẽ rung lên và mặt rãnh sau nhà kho vẫn đọng một lớp nước đục chưa chịu rút. Quốc Thịnh đứng trong sân nhìn trời, miệng vẫn nói với người làm vườn rằng mưa xuống càng tốt cho cây, nhưng bàn tay anh trai vô thức siết chặt chiếc chìa khóa tôi vừa trả lại như thể lần đầu tiên anh trai nhận ra nó nặng hơn mình tưởng. Tôi ở khu vườn mới nghe tiếng mưa bắt đầu gõ nhẹ lên mái hiên, tay vẫn đặt trên cuốn sổ việc ghi đúng tên từng người, và không đứng dậy đi về phía nhà cũ thêm một lần nào nữa.