Tôi Dùng Mười Sáu Năm Giữ Cho Những Bức Tranh Cổ Không Chết — Chồng Lại Dùng Chính Tên Tôi Để Bán Chúng, Đến Khi Cả Thế Giới Biết Sự Thật Thì Anh Ta Chỉ Còn Một Chiếc Khung Rỗng
Chương 2: Căn Nhà Di Sản Của Bà Ngoại Và Ba Nghìn Giờ Hóa Tro Nguội Dưới Tầng Hầm
Tôi quay xuống phòng phục chế dưới tầng hầm khi tiếng nhạc ở sảnh triển lãm vẫn còn vọng xuống qua lớp trần dày. Căn phòng nồng mùi dung môi và nhựa thông quen thuộc đến mức chỉ cần hít một hơi, mười sáu năm thức trắng của tôi đã hiện về nguyên vẹn không thiếu một đêm nào. Trên lầu, Phạm Duy Trạch đang được tung hô như người giữ lửa cho di sản họ Phạm, còn dưới này, chiếc bàn gỗ tôi ngồi mòn suốt tuổi thanh xuân vẫn còn vết bỏng hóa chất từ lần tôi cứu bức tranh gia bảo trong cơn sốt cao. Tôi đóng cửa lại, kéo ghế ngồi xuống và bỗng thấy lòng mình lặng đến đáng sợ, bởi người vừa phát hiện ra nguyên tác bị đánh tráo lại không hề muốn khóc như tôi từng tưởng.
Tôi mở tủ sắt cá nhân bằng chiếc chìa khóa mà chưa từng một ai trong nhà này được chạm vào, lấy ra tập hồ sơ ảnh chụp gốc mà tôi lưu riêng từ những ngày đầu bước chân vào dinh thự. Đó là thói quen nghề nghiệp mà Phạm Duy Trạch từng cười chê là đa nghi thừa thãi, nhưng chính thói quen ấy đã giữ lại cho tôi toàn bộ dấu vết thật của từng lớp sơn, từng thớ vải và từng vết vá do chính tay tôi làm. Tôi đặt ảnh chụp quang phổ của bức tranh gia bảo lên bàn sáng và đối chiếu với hình ảnh hiện tại vừa chụp ở sảnh trên, sợi gai dầu thủ công năm xưa đã biến mất không còn một dấu tích. Rồi tôi lật sang bức thứ hai, bức thứ ba, và bàn tay tôi dừng lại rất lâu trên bức thứ tư khi nhận ra đường keo nhựa thông ở góc phải cũng đã bị thay bằng một lớp keo công nghiệp lạnh và đều đến vô hồn. Đến bức thứ bảy, tôi không cần soi thêm nữa, bởi sự thật đã nằm rõ ràng trước mắt, không chỉ một bức tranh bị tráo, mà ít nhất bảy nguyên tác tôi từng cứu sống đã bị rút khỏi khung và thay bằng bản sao.
Bảy bức tranh ấy không phải là con số khô khan trên một danh mục, mỗi bức đều gắn với một lần tôi tự bỏ tiền túi ra mua khoáng thạch quý, bột màu tự nhiên và dung môi nhập về để giành lại chúng từ mốc meo và nứt vỡ. Có bức tôi phải ngồi liền ba đêm không ngủ, dùng kính lúp bóc tách từng lớp sơn phủ đã ố vàng mà chỉ cần mạnh tay một chút là mảng màu gốc sẽ bong theo. Có bức bà ngoại từng nhìn tôi làm qua ảnh chụp và dặn rằng tranh cũng như người, đã cứu thì phải cứu cho đến nơi, đừng bỏ dở giữa chừng khiến nó đau thêm một lần nữa. Tôi đã tin lời dặn ấy đến mức bán đi căn nhà duy nhất bà để lại khi nhà họ Phạm nói rằng không còn tiền để cứu bức tranh gia bảo, và tôi vẫn nghĩ số tiền ấy ít nhất đã đổi lấy sự tồn tại của một di sản thật. Hóa ra căn nhà của bà ngoại tôi không chỉ bị bán đi để cứu tranh, nó còn bị biến thành khởi đầu cho một đường dây rút ruột, nơi từng tác phẩm tôi cứu được đều có thể bị anh ta lặng lẽ định giá và mang đi.
Tôi mở cuốn sổ ghi chép chi phí bảo tồn mà tôi vẫn giữ song song với sổ của gia đình, đối chiếu từng khoản vật liệu tôi đã chi trong nhiều năm với những khoản được ghi là chi phí bảo quản chuyên biệt trong quỹ của nhà họ Phạm. Những con số không biết nói dối theo kiểu tình cảm, chúng chỉ lạnh lùng chỉ ra rằng có những tháng tôi vừa chuyển tiền mua vật liệu, thì ngay sau đó một khoản tiền lớn hơn lại được rút ra dưới danh nghĩa phí vận chuyển và bảo hiểm kho. Tôi lần theo những mốc thời gian trùng với các chuyến xe đêm mà trước đây tôi từng nghe loáng thoáng nhưng không dám nghĩ sâu, và tim tôi thắt lại khi thấy điểm đến cuối cùng không phải là một kho bảo quản nào cả. Một phần tiền đã chảy vào hợp đồng mua căn hộ cao cấp đứng tên Vũ Ngọc Diệp, phần còn lại chảy vào chi phí thuê mặt bằng và trang trí cho phòng trưng bày riêng mà cô ta đang dùng để xây dựng hình ảnh người kế thừa. Nói cách khác, những bức tranh tôi cứu bằng tiền bán nhà của bà ngoại, bằng sức khỏe và bằng hơn ba nghìn giờ hít mùi hóa chất, đã bị anh ta bán đi để mua nhà và mở đường danh vọng cho nhân tình.
Tôi nhớ năm thứ năm sau khi cưới, tôi nhận được thư mời tham gia chương trình bảo tồn quốc tế mà bất cứ người làm nghề nào cũng mơ ước, nhưng Phạm Duy Trạch đã ôm lấy tôi ngay trong căn phòng này và nói bằng giọng tha thiết rằng nhà họ Phạm không thể thiếu tôi lúc bộ sưu tập đang mục nát từng ngày. Tôi đã từ chối cơ hội ấy, ở lại tầng hầm này và tự nhủ rằng người vợ ở bên chồng lúc khó khăn mới là điều đáng quý, còn danh tiếng cá nhân thì sớm muộn cũng sẽ đến sau. Sau này mỗi lần tôi nhắc lại, Phạm Duy Trạch đều nói với vẻ bề trên rằng nếu không có sân khấu của nhà họ Phạm thì tài năng của tôi cũng chẳng ai biết tới, như thể chính anh ta mới là người ban phát giá trị cho đôi tay này. Bây giờ nhìn vào bảy chiếc khung đã bị rút ruột, tôi mới hiểu anh ta chưa từng sợ tôi không có chỗ đứng, anh ta chỉ sợ tôi bước ra ngoài và mang theo thứ ánh sáng duy nhất khiến bộ sưu tập của anh ta còn đáng giá.
Tiếng giày da gõ xuống bậc thang tầng hầm vang lên đều đặn, và tôi biết là Phạm Duy Trạch đang xuống tìm tôi trước cả khi cánh cửa bị đẩy ra. Anh ta bước vào với vẻ mặt khó chịu, đưa tay bịt mũi vì mùi dung môi, ánh mắt lướt qua căn phòng chật chội này như thể đây là một nơi thấp kém không xứng với bộ lễ phục anh ta đang mặc. Suốt mười sáu năm, anh ta rất ít khi xuống đây, trừ những lúc cần lấy một bức tranh đã hoàn thiện để mang lên lầu nhận lời khen, hoặc cần đưa xuống một tác phẩm sắp chết để tôi lặng lẽ cứu trong đêm. Lần này anh ta cầm theo một xấp hồ sơ dày, bìa ngoài in tên một đối tác lớn, các mép giấy còn mới và thơm mùi mực in của văn phòng trên lầu. Phạm Duy Trạch ném xấp hồ sơ xuống bàn của tôi với thái độ ra lệnh quen thuộc, rồi anh ta nói bằng giọng thiếu kiên nhẫn: "Em ký xác nhận tình trạng nguyên vẹn cho lô tranh này ngay trong đêm nay, sáng mai anh phải bàn giao cho khách."
Tôi mở hồ sơ ra, lướt qua từng trang ảnh chụp và dừng lại ở bức tranh thứ hai trong danh sách, một tác phẩm phong cảnh cổ mà tôi khẳng định chưa từng được đặt lên bàn phục chế của mình. Vết nứt trên lớp sơn của nó hoàn toàn xa lạ, đường viền khung cũng không khớp với bất cứ ghi chép nào trong sổ tay của tôi suốt mười sáu năm qua. Tôi ngẩng lên nhìn thẳng vào Phạm Duy Trạch và hỏi bằng giọng bình tĩnh đến mức chính tôi cũng thấy lạnh, rằng bức tranh này chưa từng qua tay tôi kiểm tra, vậy anh muốn tôi ký xác nhận dựa trên điều gì. Phạm Duy Trạch nghe xong liền sầm mặt xuống, anh ta nói với giọng gắt gỏng và đầy khinh thường rằng tôi chỉ cần ký tên như mọi lần, còn việc tranh ở đâu và bán cho ai không phải là phần việc của tôi.
Phạm Duy Trạch chống một tay lên mép bàn, cúi xuống nhìn tôi từ trên cao như cách anh ta vẫn nhìn những người làm công trong nhà này mỗi khi họ dám hỏi thêm một câu. Anh ta nói tiếp với giọng kể công quen thuộc rằng nếu không có danh tiếng nhà sưu tầm của anh ta thì mười sáu năm qua tôi cũng chỉ là một thợ làm thuê vô danh, chẳng ai thèm nhớ đến một cái tên chuyên làm việc trong bóng tối. Rồi Phạm Duy Trạch hạ giọng xuống đầy miệt thị và nói rõ từng chữ rằng một người phụ nữ suốt ngày cạo sơn dưới tầng hầm, ăn cơm nhà họ Phạm thì phải biết phận làm nền, không có tư cách xen vào chuyện kinh doanh của đàn ông. Trong khoảnh khắc ấy, tôi bỗng nhìn rõ đôi bàn tay mình đặt trên hồ sơ, những ngón tay chai sần vì hóa chất, móng tay còn vương bột màu khoáng từ ca làm việc cuối cùng cho nhà họ Phạm.
Tôi nhìn đôi bàn tay ấy rất lâu, và lạ thay tôi không còn thấy tủi thân như những lần bị anh ta hạ thấp trước đây nữa. Nỗi đau đã đi qua hết một vòng, từ bỏ học bổng, bán nhà bà ngoại, thức trắng ba nghìn giờ, đến bảy bức tranh bị bán ngầm, và khi nó quay trở lại điểm bắt đầu, trong lòng tôi chỉ còn lại tro nguội. Tôi từ tốn đóng sập cuốn sổ tay ghi chép công thức pha chế dung môi và bóc tách lớp phủ độc quyền của mình ngay trước mặt Phạm Duy Trạch, tiếng bìa cứng khép lại vang lên khô khốc trong căn phòng kín. Tôi nói với giọng rõ ràng, không cao, không run, từng chữ đều lạnh và dứt khoát: "Anh nói rất đúng, tôi đã làm thợ không công cho nhà anh tròn mười sáu năm, vậy nên từ bức tranh này trở đi, mời anh và người kế thừa của anh tự ký tên và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật." Phạm Duy Trạch sững người mất một nhịp, rõ ràng anh ta không ngờ người vợ chưa từng dám từ chối một yêu cầu nào lại có thể nói ra câu ấy bằng vẻ mặt bình thản như đang thông báo một lịch làm việc.
Phạm Duy Trạch bật cười khẩy với vẻ không tin nổi, anh ta nói bằng giọng đe dọa rằng tôi đang ghen tuông với Vũ Ngọc Diệp nên mới bày trò giận dỗi vào đúng lúc gia đình cần ký bàn giao. Tôi đáp lại anh ta bằng sự im lặng hoàn toàn, bởi tôi hiểu nếu mình còn giải thích, anh ta sẽ lại nghĩ tôi vẫn cần được anh ta công nhận như trước. Phạm Duy Trạch thấy tôi không cãi, cơn tức giận trong anh ta càng dâng lên, anh ta giật lại xấp hồ sơ trên bàn và nói với giọng hằn học: "Sáng mai anh sẽ để mẹ dạy lại em quy củ làm dâu nhà họ Phạm, em đừng tưởng cứng đầu một đêm là thay đổi được gì." Anh ta còn nói thêm, trước khi quay lưng bước lên cầu thang, rằng tôi nên biết điều trước khi mọi chuyện trở nên khó coi cho chính mình.
Cánh cửa tầng hầm khép lại sau lưng anh ta, tiếng giày da xa dần lên phía ánh sáng và tiếng cười nói của sảnh tiệc, để lại tôi một mình với mùi dung môi và bảy sự thật vừa được xác minh. Tôi không ngồi khóc, cũng không gọi điện chất vấn thêm bất cứ ai, bởi những câu hỏi cần hỏi đều đã có đáp án nằm trong ảnh chụp, sổ ghi chép và dòng tiền lạnh lùng kia rồi. Tôi lấy chiếc vali cũ vẫn để trong góc phòng, mở ra và đặt vào trong đó toàn bộ ổ cứng lưu trữ ảnh chụp vi mô gốc của bảy bức tranh bị đánh tráo, kèm theo cuốn sổ tay công thức mà tôi vừa đóng lại trước mặt chồng mình. Đó là toàn bộ chất xám đã nuôi sống danh tiếng của nhà họ Phạm suốt mười sáu năm, và từ đêm nay, nguồn máu ấy sẽ không còn chảy về phía họ nữa. Tôi kéo khóa vali lại, nghe tiếng khóa kim loại chạm nhau rất khẽ, và lần đầu tiên sau mười sáu năm sống dưới tầng hầm của người khác, tôi thấy mình đã sẵn sàng bước lên cầu thang mà không cần xin phép bất kỳ ai.